Tab Từ Khóa "Du lịch Hà Giang"
Showing posts with label Du lịch Hà Giang. Show all posts
Dẫu biết rằng lên núi Chiêu Lầu Thi của miền đất “vỏ cây vàng” - Hoàng Su Phì mùa này là chênh vênh đèo dốc, là sương giăng kín lối, gió buốt cắt da song đoàn chúng tôi vẫn hăm hở lên đường với bao tiếng cười và cả những tiếng xuýt xoa đan xen vì gió rét.

< “Biển mây” trên đỉnh Chiêu Lầu Thi, cao 2.402m, đỉnh cao thứ hai trên dãy Tây Côn Lĩnh.

Nếu có một lần đến Hoàng Su Phì, đừng quên ghé thăm núi Chiêu Lầu Thi – ngọn núi hùng vĩ cao thứ 2 của tỉnh Hà Giang.

Thả hồn vào trong làn mưa mỏng đang giăng mờ phía trước, núi, vực và con đường nhỏ từ xã Hồ Thầu rẽ vào đường lên đỉnh núi Chiêu Lầu Thi chưa có đường bê-tông, đất đá lởm chởm, ngoằn ngoèo, rích rắc quanh núi đá, lắc lư, lúc bật ngửa lên, lúc chúi người xuống, đung đưa theo từng cú nghiêng ngả, lao và bò của chiếc xe ô-tô 5 chỗ.

< Con đường gập ghềnh lên đỉnh núi Chiêu Lầu Thi.

Cùng đi với chúng tôi, có chú cán bộ người Hà Tĩnh; trước đây, chú làm ở Hoàng Su Phì rồi chuyển công tác, dễ đến hơn 30 năm chưa quay lại thăm huyện. Nên trong chuyến thăm quan này, bác Triệu Đức Thanh - nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang và anh cán bộ ngoài tỉnh, cùng tôi đưa chú về thăm lại mảnh đất Hoàng Su Phì và lên khám phá đỉnh núi Chiêu Lầu Thi hùng vĩ.

Phải mất hơn 2 giờ đồng hồ đi từ trung tâm huyện Hoàng Su Phì, chúng tôi mới lên được núi Chiêu Lầu Thi. Trái với không khí nhộn nhịp ngoài phố thị, khung cảnh ở đây vẫn hoang sơ, bình yên đến lạ thường. Hiếm có nhà ở, có chăng là những nhà “lán” dân dựng tạm để lên núi chăn dê và thêm một khu Văn phòng Công ty Cổ phần Bình Minh 3 mới xây dựng chưa lâu.


Khí hậu mát mẻ, thời tiết trong lành ở đây khiến tôi liên tưởng đến một Đà Lạt được thu nhỏ. Nếu là buổi trưa mùa Hạ thì thời tiết mát mẻ như tiết trời Thu, cảnh sắc như mùa Xuân, còn tiết trời bình minh của ngày giá rét thì thấm đẫm đầy sương và gió lạnh, đi xe ô-tô tầm nhìn xa không quá được 5 m.


Xuống xe trong cái gió cuối Đông buốt đến tê người, cả đoàn dừng chân rồi tiếp tục đi bộ thêm khoảng 500 m nữa; những cây mận, cây đào bên đường đi vẫn lặng im chúm chím thắp lửa, nhen lên cảm giác ấm áp. Đi bộ mãi, gió rít, sương mờ rồi cũng lên được đến đỉnh núi Chiêu Lầu Thi. Nơi đây có độ cao 2.402 m so với mực nước biển, là một trong những núi cao thuộc dãy Tây Côn Lĩnh. Đỉnh Chiêu Lầu Thi (còn gọi là Kiêu Liều Ti) nằm trên địa bàn xã Hồ Thầu (Hoàng Su Phì) cao 2.402 m. Đỉnh Tây Côn Lĩnh cao 2.427 m, hơn đỉnh Chiêu Lầu Thi không đáng kể. Các nhà địa lý cho biết: Đỉnh Chiêu Lầu Thi nằm trên cánh cung Tây Bắc thuộc Bắc Việt Nam, thuộc hệ các dãy núi cao phía Tây chạy theo hướng Tây Bắc kéo xuống phía Nam Việt Nam. Chiêu Lầu Thi nằm ở thôn Tân Minh và thôn Chiến Thắng, xã Hồ Thầu.

Chiêu Lầu Thi là tên gọi ngọn núi cao thứ 2 của tỉnh Hà Giang, tên tiếng Việt có nghĩa là “Chín tầng thang”. Theo tiếng Hán “Chiêu Lầu” có nghĩa là chín bậc, “thi” là tảng đá to và cao. Tên “Chín tầng thang” chính là đoạn đường leo lên đỉnh núi, ngày xưa được người đời kiến tạo thành những bậc đá lên xuống, từ độ cao hơn 2.300 m lên đến đỉnh cao 2.400 m. Chân núi Chiêu Lầu Thi có 13 xã thuộc huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần. Tương truyền rằng, theo người già kể từ khi Pháp xâm lược Việt Nam, định dùng ngọn núi này làm điểm quan sát một vùng rộng lớn. Nên đã thuê đồng bào phá đá mở đường lên đỉnh núi. Pháp thuê thợ là người Hán đục đá từ chân lên đến đỉnh núi bằng 9 bậc thang đá. Ở đây, cũng đã từng tồn tại hoạt động cách mạng của cán bộ Việt Minh từ những năm cách mạng tháng Tám của nước ta.

< Trên đỉnh Chiêu Lầu Thi có cả một hồ nước quanh năm trong xanh, đầy ắp nước cung cấp cho các đồng lúa phía chân núi và là điểm đến thú vị không thể bỏ qua.

Đây là khu rừng núi cao nguyên sinh tiềm ẩn rất nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Phía Nam đỉnh núi, là khu vực nhiều gỗ nguyên sinh có tuổi rêu xanh phủ kín. Nếu trời quang, mây tạnh, bình minh lên, ánh nắng mặt trời len lỏi như rót mật phủ áo giát vàng vào từng vạt núi, thì khung cảnh núi non trùng điệp, biển mây bồng bềnh tạo nên khung cảnh tuyệt đẹp hiếm có của núi Chín tầng thang. Phía Tây Nam là thung lũng rộng lớn và nên thơ Quảng Nguyên, Nà Chì, Khuôn Lùng. Phía Tây là chân núi Chiêu Lầu Thi kéo dài đến Chế Là, Nấm Dẩn, Quảng Nguyên (Xín Mần).


Từ trên đỉnh cao đi xuống khu vực phía dưới bằng dây thừng, khá nguy hiểm nhưng cực kỳ thú vị. Ở đó có rừng nguyên sinh hàng trăm năm tuổi, rêu xanh phủ kín thân cây, một vùng bãi bằng rộng lớn toàn cây tre, hóp và chè cổ thụ cao 7 – 8 mét sống xen kẽ trong rừng cây.


Nhìn sang phía Đông là trùng điệp núi đá, cây cối bao bọc xanh tốt, sương mù trắng xóa lẫn những tia nắng xuyên thấu len lỏi, khi tan sương thì mây bồng bềnh, lững thững trôi như biển mây trên độ cao hơn 2.400 m. Phía Bắc có bãi bằng Nàng Cút trồng cây guột và dược liệu của Công ty Cổ phần Bình Minh 3 đầu tư quy hoạch trồng.


Cạnh đó có con đường đi mới mở từ năm 2013 – 2014, và mới đây được mở rộng ra cho xe ô-tô lên. Đứng nơi đỉnh núi này, ta có thể nhìn ra cả huyện Hoàng Su Phì, nhìn sang Xín Mần, bao quát cả một vùng núi non thuộc miền Tây Bắc Hà Giang. Có câu ca nào đó về núi Chiêu Lầu Thi đã được các nghệ sĩ phổ nhạc rằng:


“Ai đã mở đường lên đỉnh núi, ngắm nhìn mây như dải lụa hồng
Ngọt ngào nghe điệu Páo dung, thông reo gió ngàn nhìn ruộng bậc thang...”

Dọc theo đường lên núi, du khách có thể thấy những cánh rừng già nguyên sinh với một quần thể thực vật phong phú. Chiêu Lầu Thi còn là nơi trồng nhiều loại cây Tống Quán Sủ đang sinh trưởng, phát triển tốt. Ngoài ra, núi còn có nhiều động thực vật quý hiếm và người ta còn biết đến cây “chè thuốc” – chè Shan tuyết mọc ngay dưới đỉnh 2.402 m. Chè mọc thành vùng như những cây cổ thụ của rừng. Búp chè thuốc màu xanh tía đỏ, được phủ kín một lớp lông tơ mịn, lá dày, búp to.

< Đỉnh Chiêu Lầu Thi mờ ảo trong mây.

Cây chè mọc ở độ cao trên 2.000 m, hứng chịu gió từ 4 phương, sương 4 mùa mà tạo nên những tinh chất quý có tác dụng như “thuốc” bồi bổ sức khỏe con người. Việc con, cháu lên Chiêu Lầu Thi hái chè thuốc biếu ông bà, cha mẹ uống tĩnh tâm, dưỡng khí đã trở thành nét văn hóa truyền thống trong vùng. Cây chè Shan tuyết trên đỉnh Chiêu Lầu Thi đã trở thành một trong những loại thực vật quý của Hồ Thầu từ đời này qua đời khác truyền lại.

Đứng trên đỉnh núi Chiêu Lầu Thi, thấy thu vào tầm mắt muôn trùng nước non, khung cảnh thiên nhiên núi rừng miền Tây thật hùng vĩ. Tất cả, đang chờ đợi những ai muốn khám phá Chiêu Lầu Thi để tận hưởng cảm giác leo núi, chiêm ngưỡng vẻ đẹp núi “Chín tầng thang” một ngày gần nhất.

Theo Mỹ Hằng (Báo Bắc Giang), ảnh từ rất nhiều nguồn.
(VNP) - Cũng như người dân vùng cao ở Yên Bái, Hà Giang, người dân ở Pác Nặm (Bắc Kạn) đã khai phá những quả đồi để làm ruộng bậc thang cấy lúa. Đến với huyện Pác Nặm (Bắc Kạn) du khách không chỉ bị hấp dẫn bởi nền văn hóa đa dạng, nhiều màu sắc của các dân tộc vùng cao mà còn bị mê đắm trước vẻ đẹp của những cung ruộng bậc thang nằm vắt ngang các sườn đồi.

Pác Nặm là một huyện vùng cao với đa số người dân là đồng bào các dân tộc thiểu số, đời sống còn gặp nhiều khó khăn. Do địa hình chủ yếu là đồi núi nên đất sản xuất nông nghiệp luôn là vấn đề quan trọng số một đối với người dân nơi đây. Khắc phục điều này bằng sự cần cù và sáng tạo của mình ở nhiều nơi trên địa bàn huyện Pác Nặm người dân đã bạt đất, đá tạo thành những thửa ruộng bậc thang uốn quanh các sườn đồi. Vì vậy, ở đây, những thửa ruộng bậc thang vừa là nơi cung cấp nguồn lương thực chủ yếu, vừa mang lại vẻ đẹp cho mỗi vùng quê.

Đi theo Tỉnh lộ 258B, ngay ở cửa ngõ của huyện Pác Nặm, du khách đã được chiêm ngưỡng những cung ruộng bậc thang kỳ vĩ mang vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc. Đặc biệt là tại đỉnh đèo Kéo Điếp, phóng tầm mặt xuống du khách mới thấy hết sự kỳ vĩ và nên thơ của những thửa ruộng bậc thang ôm trọn những quả đồi.

Ruộng bậc thang ở Pác Nặm đã có từ rất lâu và nhiều đời nay, người dân nơi đây vẫn canh tác và không ngừng mở rộng các thửa ruộng. Ruộng bậc thang ở Pác Nặm mang một vẻ đẹp huyền bí cùng những ý nghĩa sâu sắc về sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên.

Ông Ma Văn Tuấn, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Pác Nặm, cho biết Pác Nặm là một trong 60 huyện nghèo nhất trong cả nước. Nằm cách xa trung tâm tỉnh hơn 90km về phía Bắc, đường giao thông đi lại ở đây khó khăn chủ yếu là dốc núi. Toàn huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là gần 47.540ha, nhưng mới chỉ có gần 4.410ha đất nông nghiệp, chiếm 9,3%; trong đó đất trồng lúa cả năm là 1.882ha.

Nhờ tận dụng, khai phá đất đai tốt cộng với thâm canh tăng vụ nên sản lượng lương thực của huyện đạt hơn 20.200 tấn, bình quân lương thực đạt 633 kg/người/năm. Bình quân hàng năm tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm từ 4% trở lên.

Do địa hình cao, nếu san cả một quả đồi chỉ bằng sức người để làm ruộng là điều không thể. Vì thế, người dân vùng cao đã nghĩ ra cách bạt đất theo bậc tam cấp để làm ruộng. Mỗi hòn đất, mỗi thửa ruộng chứa biết bao mồ hôi, công sức, thể hiện trí tuệ, trình độ canh tác lúa nước của người dân vùng cao. Việc làm bậc tam cấp giúp người dân tận dụng tối đa diện tích triền đồi và giảm hiện tượng rửa trôi, cũng như sạt lở đất canh tác.

Không giống như miền đồng bằng, các cánh đồng có hệ thống kênh mương đến tận ruộng, ở vùng cao dẫn được nước, giữ được nước trên ruộng bậc thang là cả vấn đề. Để có nước sản xuất, người dân phải đào mương dẫn nước dọc các triền đồi hoặc dùng hệ thống máng tre, nứa đưa nước về.

Do phụ thuộc nhiều vào nguồn nước tự nhiên nên việc sử dụng tiết kiệm nước vào mùa khô là điều quan trọng nhất đối với việc canh tác trên ruộng bậc thang. Theo trình tự, nước được đưa về thửa ruộng cao nhất, sau đó cho chảy xuống thửa tiếp theo và cho đến thửa cuối cùng.

Về mùa mưa, để tránh ruộng bị rửa trôi mạnh hoặc bị sạt lở, người dân không đắp bờ cao mà để dòng nước tràn từ thửa này xuống thửa khác. Trung bình mỗi hộ dân Pác Nặm có từ 3-5 thửa ruộng, thửa rộng có diện tích lên đến 1.000-2.000m2, thửa bé chỉ vài chục m2. Sự phụ thuộc vào nhau trong quá trình sử dụng nước để canh tác ruộng bậc thang giúp tăng cường tính gắn kết cộng đồng. Khi hệ thống mương, máng dẫn nước bị hỏng, người dân trong thôn lại cùng nhau nạo vét, tu sửa.

Anh Lý Văn Sinh, dân tộc Mông, xã Công Bằng, huyện Pác Nặm cho biết: Gia đình có hơn 2ha chủ yếu là ruộng bậc thang, những thửa ruộng này được cha ông để lại, mỗi năm cấy một vụ lúa cũng đủ ăn. Nhiều gia đình còn trồng ngô, đậu đỗ trên những thửa ruộng bậc thang. Người dân ở đây rất quý trọng và giữ gìn những thửa ruộng bậc thang của mình.

Vào mùa lúa chín, giữa mênh mông núi rừng hình ảnh các sơn nữ nhanh tay gặt những bông lúa chín vàng bên những cung ruộng bậc thang uốn lượn tạo nên vẻ đẹp riêng của miền sơn cước Pác Nặm.

Theo ước tính của lãnh đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Pác Nặm, toàn huyện có hơn 1.500ha đất trồng lúa thì đất ruộng bậc thang chiếm khoảng 50-60%. Với sự hỗ trợ của máy móc việc khai hoang tạo ruộng bậc thang của người dân Pác Nặm đã bớt vất vả hơn. Các chính sách hỗ trợ sản xuất, tập huấn kỹ thuật đã giúp nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế của ruộng bậc thang. Người dân Pác Nặm coi trọng và tự hào về những thửa ruộng bậc thang mà mình đang có.

Những thửa ruộng bậc thang không chỉ là nơi cung cấp lương thực mà còn cho thấy ý chí vươn lên, khát vọng ấm no và trình độ, sự sáng tạo trong lao động sản xuất của người dân vùng cao. Ngoài ra, đây cũng là thắng cảnh tuyệt đẹp trong mắt người du lịch.

Theo Mạnh Hà (VietnamPlus)
Điểm tham quan được rất nhiều người lựa chọn cho chuyến du xuân đầu năm tại Hà Giang chính là cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng - nơi được coi là biểu tượng cực Bắc thiêng liêng của Tổ Quốc. Tuy vậy lại có rất ít người biết và tìm đến được với cột mốc 428 - cột mốc địa đầu chứng kiến dòng Nho Quế chảy vào đất Việt.

Nằm cách chân cột cờ Lũng Cú tầm 5km về hướng Bắc, cột mốc 428 chính là điểm đánh dấu phần lãnh thổ Việt Nam vươn xa nhất. Từ bản Xéo Lủng vốn thuần đồng bào Mông, men theo những con đường đất dựng đứng tụt xuống dòng Nho Quế, vượt tiếp các cột mốc 426 - 427 bạn mới có thể đến với cột mốc chủ quyền 428 ở cực Bắc này. Vẫn còn nhiều "tranh cãi" về điểm cực Bắc thật sự của Tổ Quốc, nhưng chính mốc 428 này là cột mốc tiệm cận điểm cực Bắc hơn tất thảy.

< Từ bản Xéo Lủng, đi bộ men theo con đường mòn cuối bản, qua những sườn núi xuống phía bờ sông Nho Quế sẽ qua cột mốc số 426 rồi mới đến mốc 428.

Sau khi xin phép trưởng đồn Biên phòng Lũng Cú, đoàn chúng tôi được một chiến sỹ hỗ trợ đi kèm ra thăm mốc để tránh đi lạc sang nước bạn. Quãng đường từ bản Xéo Lủng xuống chân cột mốc chỉ chừng 2km đường vòng nhưng dốc đứng liên tục và kéo dài xuống phía dòng Nho Quế, và phải mất 3 giờ đồng hồ toát mồ hôi mới có thể tiếp cận.

Đường từ Lũng Cú xuống thăm cột mốc 428 đẹp như tranh với khung cảnh đặc trưng của cao nguyên đá Đồng Văn. Trong ảnh là cột cờ Lũng Cú ở phía xa xa, cách vị trí chụp khoảng 5km.

Đoạn đường lúc đi thoạt đầu khá dễ dàng vì chỉ phải xuống dốc nên đỡ mệt. Dọc đường đi là những ruộng cải của người dân. Con đường mòn dẫn xuống cột mốc ngoằn ngoèo, uốn lượn quanh sườn đồi.

Những con đường đất bám men theo triền núi sẽ đưa bạn ngày càng tiếp cận với đầu dòng Nho Quế, ranh giới tự nhiên giữa hai quốc gia Việt Nam - Trung Quốc.

Mùa xuân cũng là thời điểm muôn hoa khoe sắc. Con đường trekking xuống với cột mốc biên cương mùa này đi giữa những vạt hoa cải, những cây đào cây mận nở hoa rực rỡ. Cảnh sắc thiên nhiên vô cùng tươi đẹp.

Thật khó để có thể tiếp cận cột mốc dù chỉ cách bản Xéo Lủng 2km, nhưng vẻ đẹp cùng những phút giây tạo hình trước thiên nhiên hùng vĩ nơi đây dường như đã làm giảm đi rất nhiều sự mệt mỏi của các thành viên.

Qua ruộng ngô tầm 300m, sẽ đến một ngã 3. Mọi người chú ý đi đường bên phải, vì nhóm chúng tôi suýt lạc nhau ở đó.

Qua ngã 3 ấy đập vào mắt tôi là cảm giác chiến thắng tràn ngập trong lòng mỗi người. Mốc 428 tuy chưa phải là điểm cực Bắc, nhưng nó là cột mốc xa nhất về hướng Bắc của Tổ quốc, đây là điểm tiệm cận nhất với điểm cực Bắc (thông tin chưa có ai đến được điểm cực đó cả). Cột mốc cách dòng sông Nho Quế tầm 500m theo đường chim bay. Sông Nho Quế là con sông chung của Việt Nam và Trung Quốc nên nó đồng thời là ranh giới của 2 nước.

Nếu coi mỗi cột mốc ranh giới là một dấu chấm đỏ trên bản đồ, thì nối các dấu chấm ấy lại, sẽ là hình chữ S nước Việt. Mốc 428 là mốc đơn loại nhỏ, nằm trên địa bàn xã Lũng Cú, Đồng Văn của tỉnh Hà Giang. Mốc được làm bằng đá hoa cương.

Từ mốc 428 bạn sẽ dễ dàng quan sát dòng Nho Quế xanh như ngọc bích, đoạn dòng bắt đầu chảy vào nước Việt. Cột mốc nằm cách mặt sông Nho Quế chỉ chừng 500m tính theo đường chim bay.

Giây phút ăn mừng "chiến thắng" chinh phục thành công mốc 428 tại cực Bắc của nước Việt.

Mốc giới 428 nằm ở thôn Xéo Lủng, xã Lũng Cú. Cột mốc tuy bé xíu nhưng phải đến hơn 2 năm mới xây xong. Phần vì cơ sở vật chất, địa hình hiểm trở, khó khăn. Ở đây chỉ có và chục hộ dân tộc Mông sinh sống. Nhờ những chính sách của lãnh đạo Hà Giang, bà con ở đây yên tâm kiên trì bám đất, biến những triền đá xám xịt kia thành những ruộng ngô, khoai, hoa màu tươi tốt. Và cũng chính họ như những người lính không chính thức canh giữ từng mảnh đất thiêng liêng nơi địa đầu Tổ quốc.

Rời cột mốc 428, trong lòng chúng tôi không khỏi tự hào, và thêm niềm tin yêu Tổ quốc.

Từ bản Xéo Lủng, đi bộ men theo con đường mòn cuối bản, qua những sườn núi xuống phía bờ sông Nho Quế sẽ qua cột mốc số 426 rồi đến mốc 428. Mốc nằm cách bờ sông chừng 2km, đường mòn vòng quanh là thế, nhưng nếu tính đường chim bay thì chỉ chừng không quá 500m. Từ mốc 428 nếu không đi xuống bờ sông mà đi vòng qua sườn núi sẽ gặp mốc 427 nằm khuất phía bên kia sườn dốc. Ba mốc này là ba điểm quan trọng vẽ nên đỉnh cực Bắc Việt Nam.

Tổng hợp từ Dân Việt, Zing và nhiều nguồn khác
(iHay) - Có dịp đến bản Lán Xì (xã Phố Cáo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang) trong những ngày mùa xuân ngọt lành, bạn sẽ được tận hưởng không khí yên bình, êm trôi của những bản làng nằm lặng lẽ sau lưng núi.

Mùa xuân là yên bình, là đâm chồi khoe lá, là nảy lộc đơm hoa. Mùa cải vào vụ, người dân bản Lán Xì lại hăng say lao động cày bừa cho vụ xuân. Những nương ruộng cải mèo hoa nở vàng tươi lối đi như nô nức đón xuân sang.

Bên ruộng còn nâu mùi đất mới, mỗi người một việc, cày bừa xới đất. Gió mùa xuân mang khói trắng về trời. Phía sau, dãy núi như đang nằm lặng chờ đợi xuân sang cho lộc biếc chồi non bừng sắc nắng.

Khói đốt rơm rạ trong buổi chiều xuân dường như khiến khung cảnh trở nên gần gũi, yên bình giữa bốn bề đá núi. Xa xa là những dãy sa mộc xanh thẫm đang vươn dọc bầu trời như tường thành hiên ngang che chở cho bản làng xứ núi.

Từng nếp nhà trình tường nép mình trong lòng núi, còn những hàng sa mộc thì như những mũi tên lao. Bước chân vội vàng qua những ruộng đậu Hà Lan nở hoa tím biếc, len lỏi qua con đường đất nhỏ vắt lối sang phía bên kia sa mộc, thấy nhẹ tênh những nhịp lòng.

Mùa này, củ cải đã to tướng nằm vùi xuống đất nâu, rồi trở mình nhô lên đón nắng xuân hiền hòa.

Đi sâu vào bản làng, thấy những nếp nhà mái ngói âm dương một màu cổ kính nằm lặng lẽ trong không khí xuân sang.

Bên ngôi nhà vắng, gió nắng lùa nhẹ vào gian nhà đất cổ, nơi người mẹ vẫn đang cần mẫn gỡ những sợi lanh bện lấy nhau, trong ánh sáng hắt nghiêng của buổi chiều muộn.

Gỡ lanh, xe sợi, chải đều. Công đoạn mất nhiều thời gian và sự tỉ mẩn, chịu khó. Sợi lanh để đến được công đoạn này, đã phải đi qua nhiều ngày tháng, đủ cho cây lanh trồng trên đất, lớn lên rồi thu hoạch để làm nên từng sợi nhỏ dai bền.

Bó lanh đều đặn nằm cuộn mình trong sàng sảy như thành quả của bao ngày lao động đôi tay người phụ nữ. Xuân về, lanh dệt nên những tấm áo mới, chiếc váy đẹp để người ta kịp trẩy hội giữa xứ núi tràn sắc thơm hương.

Đứa trẻ trên vai mẹ vẫn chăm chú nhìn theo đôi tay mẹ làm. Người mẹ vùng cao chịu thương chịu khó, làm lụng vất vả mà vẫn chăm thương con.

Bên góc nhà, những chú bò dường như cũng sốt ruột ngóng chờ xuân sang. Ngoài kia nắng ấm gió se, hoa vàng mới nở và chim hót đầu cành.

Vách nhà, nếp cửa vẫn dán những lá bùa với túi đỏ treo cao. Có lẽ đây là một trong những phong tục của người Mông xứ núi để xua đuổi ma quỷ, cầu mong một năm mùa màng bội thu, trâu bò khỏe mạnh

Theo Hạnh My - Hachi8 (iHay.Thanhnien)
Chiếc bánh trắng mỏng, chiên trong dầu cho hơi vàng mặt, ăn nóng cùng bột đỗ tương hoặc bột ớt rang muối là món khoái khẩu của người Mông ở vùng cao Hà Giang.

Chợ phiên Sà Phìn thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang là phiên chợ lùi mang đặc trưng của người Mông ở Đông Bắc, họp luân phiên một tuần một lần, cách nhau 6 ngày và tuần sau lùi lại một ngày so với tuần trước. Những mặt hàng được mang đến chợ chủ yếu là nông sản do người dân tự nuôi trồng được như rau cải, cà chua, ngô, đậu tương, mía, lợn, gà, trâu, bò… Với người dân ở đây, đi chợ không chỉ để mua bán mà còn là một dịp để đi chơi, giao lưu, thưởng thức những món quà vặt và uống rượu, gặp gỡ bạn bè.

Lang thang dạo quanh chợ Sà Phìn một buổi sáng, quán hàng bán đồ rán tỏa ra mùi thơm đầy mời gọi như níu chân du khách. Ở một góc nhỏ bên trái khu vực trung tâm chợ, quán bán bánh lơ khoái (còn gọi là lơ khoải) gây tò mò cho du khách bởi có rất nhiều trẻ em và người dân vây đến ăn.

Lơ khoái là món ăn chơi phổ biến vào mùa đông, nên khi có gió lạnh tràn về người ta mới bán nhiều trong chợ. Làm lơ khoái không khó nhưng phải qua nhiều công đoạn. Bột bánh được làm chủ yếu từ gạo tẻ, cho thêm một ít gạo nếp để tạo độ dẻo thơm.

Gạo được chọn làm bánh là gạo nương Yên Minh, thứ gạo ngon nhất tỉnh Hà Giang, hạt to, tròn đều. Sau khi vo thật sạch, người phụ nữ Mông nấu chín gạo và đổ ra để nguội. Trước đây khi chưa có máy xay, người làm phải giã hạt cơm cho đến nhuyễn bằng cối rất mất công, nhưng nay chỉ cần cho vào máy xay là hạt gạo đã quyện lại đặc sánh. Sau khi có bột, người ta nén thật chặt vào khung bánh để tạo thành một khối bánh rắn chắc.

Khi có khách ăn, người bán hàng lấy con dao sắc thái 1 lớp bánh mỏng chừng hơn nửa cm, cho vào chảo dầu đang sôi để rán. Chừng 1- 2 phút sau là bánh chín, người bán xiên bánh vào que tre và đưa cho khách.

Đỗ tương và ớt sau khi rang cùng muối được xay hoặc giã nhỏ cho vào hai bát để bên cạnh, khách ăn tùy sở thích có thể cho vào ít hay nhiều, có thể có ớt hoặc không nhưng không thể thiếu vị mặn bùi của lớp đỗ tương bởi đó là một phần tạo nên hương vị đặc trưng cho món ăn.

Chiếc bánh tuy đơn sơ, giản dị nhưng là món ăn chơi, ăn vặt vui miệng và quen thuộc của người vùng cao. Trẻ con theo mẹ đi chợ được cho ăn bánh là có thể vui vẻ tung tăng chơi cả buổi. Người dưới xuôi khi đến chơi chợ phiên Sà Phìn còn có thể thưởng thức thêm nhiều món ăn đặc sắc khác như cháo ấu tẩu, thắng cố, thắng dền, rượu ngô... để cảm nhận nét đặc sắc trong ẩm thực của người dân nơi rẻo cao.

Theo Lê Thương (Vnexpress)